Tiểu thuyết lấy bối cảnh triều đại Kiến Viêm mới sau khi Bắc Tống diệt vong. Truyện kể về một linh hồn từ 900 năm sau xuyên không trở thành Tống Cao Tông Triệu Cấu (sau đổi tên thành Triệu Cửu). Trong quá trình kháng Kim, ông đã thúc đẩy cải cách quân sự và đổi mới tư tưởng, sáng lập ra "Nguyên học" (môn học về bản nguyên) kết hợp các triết lý khoa học, điều chỉnh hệ thống quan chế nhà Tống, cuối cùng dẫn dắt triều Tống đi đến con đường phục hưng. Tác phẩm đã khắc họa quần tượng các danh tướng kháng Kim như Hàn Thế Trung, Nhạc Phi..., đồng thời tái cấu trúc cục diện chính trị - quân sự đối đầu giữa Tống và Kim. Nhan đề "Thiệu Tống" mang hàm ý kép: vừa là kế thừa (thiệu) cơ nghiệp Bắc Tống, vừa là khai sáng một cục diện hoàn toàn mới.
Thiệu (绍): Một là kế thừa; hai là dẫn dắt.
Năm 1127 sau Công nguyên, Bắc Tống diệt vong. Ngay sau đó, hoàng tử thứ chín là Triệu Cấu lên ngôi tại Thương Khâu trong sự kỳ vọng của muôn dân, kế thừa chính thống nhà Tống, đổi niên hiệu thành Kiến Viêm.
Tuy nhiên, chỉ trong vòng ba tháng, Lý Cương bị bãi tướng, Trần Đông bị giết, Nhạc Phi bị đuổi khỏi quân đội, Tông Trạch bị bỏ rơi tại Đông Kinh, các bố phòng kháng Kim tại Hà Bắc bị dẹp bỏ toàn diện... Sau bao nhiêu nỗ lực đó, quan lại khắp triều cuối cùng cũng thống nhất được tư tưởng, định ra lộ trình kháng Kim "huy hoàng" là phò tá Triệu quan gia nam hạ vùng Hoài Điện, chuyển đến Dương Châu (chạy trốn).
Thế nhưng vừa mới khởi hành, sau khi tham bái Đạo Tổ tại cung Minh Đạo ở Lộc Ấp, vị Triệu quan gia này lại đâm đầu ngã xuống giếng Cửu Long nổi tiếng thiên hạ. Khi tỉnh dậy, ông ta liền không nhận ra ai là tâm phúc của mình nữa!
"Trẫm muốn kháng Kim! Nhưng tâm phúc của Trẫm đang ở đâu?!"
Đây là tiếng hét chân thành từ một linh hồn đến từ 900 năm sau. Sau khi bất đắc dĩ phải kế thừa danh hiệu Đại Tống, ông còn muốn dẫn dắt triều đình và thiên hạ này đi vào một con đường mới.
Vì vậy gọi là Thiệu Tống.
Triệu Cửu: Nỗi nhục của dân kỹ thuật (工科狗), hồn xuyên vào vị hoàng đế đầu tiên của Nam Tống là "Triệu Cấu". Sau dùng chữ ký "Thương Châu Triệu Cửu", tôn sùng Nguyên học, thỉnh thoảng đóng vai kẻ chép văn (đạo văn hậu thế). Mỗi lần ra tiền tuyến đều dựng cờ Kim Ngô Sát, tại Nghiêu Sơn đấu tên với Hoàn Nhan Lâu Thất trong khoảng cách trăm bước; lấy danh nghĩa "Lạc Điêu" và "Nghiêu Sơn", nhẫn nhịn vì đất nước để phất cao ngọn cờ kháng Kim.
Hàn Thế Trung: Là "đảm lược ngang hông" của Triệu Cửu, người đời gọi là Phá Hàn Ngũ, hội tụ đủ "ngũ độc". Được Triệu Cửu dùng một dây đai ngọc buộc lại, yêu cầu làm chỗ dựa tinh thần (làm mật làm đảm) cho quan gia nhà Tống. Đại tướng kháng Kim, dám đi đầu thiên hạ. Sau trận Nghiêu Sơn được phong Diên An Quận vương. Triệu Cửu ban cờ "Thiên Hạ Vô Song", sau phong Tần Vương, giữ chức Nguyên soái, Thái sư, đứng đầu Tam công.
Nhạc Phi: Tự Bằng Cử, giai đoạn đầu chưa có danh tiếng. Đại tướng kháng Kim, văn võ toàn tài. Vì bị thương nên mắt hơi to nhỏ không đều, tửu lượng kém. Triệu Cửu ban cờ "Tinh Trung Báo Quốc". Diệt Tây Hạ, đạp nát cửa ải núi Hạ Lan. Sau phong Ngụy Vương, thụ hàm Nguyên soái, Thái phó.
Lý Ngạn Tiên: Xuất thân từ hào cường biên giới, đại tướng kháng Kim. Quang phục Thiểm Châu, đứng vững như cột trụ giữa dòng nước xiết (chữ "Đê Trụ" trong thành ngữ), gần như dùng sức một mình khiến quân Kim chia làm hai thế lực, giúp triều đình giữ được Đại Hà (Hoàng Hà) mà kết nối được với Trung Nguyên và Quan Tây. Triệu Cửu ban cờ "Trung Lưu Đê Trụ", sau phong Tấn Vương, thụ hàm Nguyên soái, gia phong Thái bảo.
Trương Tuấn: Võ tướng, coi tiền như mạng. Tại thành Hạ Thái bị Triệu quan gia dùng "nửa con vịt" buộc lại, sau khi tán hết gia tài thì liều chết giữ thành. Giai đoạn sau dần buông binh quyền để đi buôn bán trên biển. Sau phong Tề Vương, giữ chức Thiếu bảo.
Trương Vinh: Võ tướng, thủ lĩnh Lương Sơn Bạc. Sau nỗi nhục Tĩnh Khang đã phất cờ kháng Kim. Triệu Cửu ban cờ "Thế Thiên Hành Đạo", sau phong Lỗ Vương.
Khúc Đoan: Võ tướng, kẻ hay nói lời mỉa mai (lão âm dương nhân), văn võ toàn tài. Vốn là cấp trên của Ngô Giới, từng viết thơ chế giễu quan gia. Có con ngựa quý tên là "Thiết Tượng". Sau phong Trấn Nhung Quận vương.
Ngô Giới: Võ tướng, vốn là thuộc hạ của Khúc Đoan. Vị tướng mặt vàng, mưu lược dũng cảm, từng đấu tay đôi với Hoàn Nhan Lâu Thất tại Nghiêu Sơn, tuy bại trận phải chạy trốn nhưng có tư chất thống soái. Trận Nghiêu Sơn và Hoạch Lộc đều do ông làm thống soái. Triệu Cửu ban cờ "Chỉ Huy Nhược Định", sau phong Hàn Vương, thụ hàm Nguyên soái, giữ chức Thiếu sư.
Mã Khuếch: Võ tướng, được ví như "đốm lửa nhỏ có thể đốt cháy cả cánh đồng". Triệu Cửu ban cờ "Tinh Hỏa Liêu Nguyên". Tổ chức kháng chiến du kích tại vùng núi Thái Hành sau lưng địch, khổ cực chống đỡ suốt mười năm để đón vương sư phương Nam. Sau phong Hình Vương.
Dương Di Trung: Cận vệ ngự tiền (Ban trị) của Triệu Cửu, thống lĩnh Hoàng Thành Tư. Võ tướng, bất kỳ việc bẩn hay việc nặng nào Triệu Cửu cũng giao cho ông xử lý. Thường xuyên bị quan lại dâng sớ "xin chém Dương Di Trung", bị gọi là "Hồ tử áp ban" (Vị quan râu dài). Ông đại khái đoán được Triệu Cửu không còn là "Hoàn Nhan Cấu" bản gốc. Sau phong Tĩnh Tắc Quận vương.
Vương Đức: Biệt danh Vương Dạ Xoa, công huân trác tuyệt. Trận Hoạch Lộc, ông xung phong hãm trận, chém chết A Lý ngay tại trận. Sau phong Lung Tây Quận vương.
Điền Sư Trung: Võ tướng, con rể Trương Tuấn. Dốc sức tại vùng sông Hoài, liều chết tại Nghiêu Sơn, thể hiện trước dân chúng tại Đại Danh, trung dũng chân thành. Sau phong Phượng Tường Quận vương.
Lý Hiển Trung: Người vùng Thanh Giản thuộc quân Tuy Đức, tên ban đầu là Thế Phụ, tự Quân Tích. Quý tộc người Đảng Hạng. Trận Nghiêu Sơn cùng cha theo phò tá quan gia, cha ông bị Hoàn Nhan Lâu Thất giết. Sau phong Tuy Đức Quận vương.
Gia Luật Dư Đổ: Tông thất nước Liêu, đầu hàng Kim trước, sau bị Hoàn Nhan Ngột Thuật bức phản nên sang hàng Tống. Định ra sách lược tại Tây Hạ, phong Lâm Hoàng Quận vương, giữ chức Kinh lược sứ Lộ tự trị của người Khiết Đan.
Tông Trạch: Tông Lưu thủ, văn thần. Sau sự biến Tĩnh Khang, ông gian khổ kháng Kim tại Đông Kinh suốt một năm. Sau khi đón được Triệu Cửu trở lại kinh thành, ông lâm bệnh qua đời ngay trong đêm đó, thụy hiệu là "Trung Vũ".
Lý Cương: Tể chấp, lãnh tụ phái chủ chiến kháng Kim. Nhờ một hơi khí tiết mà giúp nhà Tống chống đỡ được các đợt tấn công mãnh liệt ban đầu của quân Kim, nhưng không giỏi quân vụ.
Lữ Hiếu Vấn: Lữ tướng công, Tể chấp. Tính cách lão luyện thận trọng, là một "người tốt" (hòa giải). Sau khi từ quan, Triệu Cửu bảo ông nghiên cứu và quảng bá Nguyên học.
Trương Tuấn (văn quan): Tể chấp, luôn muốn trở thành nhân vật như Gia Cát Lượng.
Ngô nương tử: Có thể ra chiến trường, cũng có thể lo việc nhà, giỏi nhất là giặt giũ đun nước. Các bút danh lưu truyền bao gồm "Lam Kiều Thiên Nhân", "Ngô Dụng". Đã viết các bộ truyện như "Tây Du Giáng Ma Tạp Ký" (đã hoàn thành), "Thủy Hử Truyện" (xác suất cao là bị dở dang).
Hoàn Nhan Tông Bật: Tên Nữ Chân là Hoàn Nhan Ngột Thuật, con trai thứ tư của Hoàn Nhan A Cốt Đả. Kim quốc phong là Ngụy Vương. Đối thủ chính của Triệu Cửu, ngay từ đầu đã thực hiện chiến dịch "lục núi lặn biển" để bắt sống Triệu quan gia.
Hoàn Nhan Lâu Thất: Đại tướng nước Kim, người Tống gọi là "Quốc tướng" nước Kim. Từng bắt sống 4 vị hoàng đế. Thể trạng có bệnh cũ do chiến tranh, không sống được lâu. Trước khi chết do bệnh, ông thân chinh thống lĩnh đại quân tấn công Đại Tống, đấu tên với Triệu Cửu tại Nghiêu Sơn, sau bị nhóm tướng Khúc Đoan, Hàn Thế Trung, Hầu Đan bao vây tiêu diệt.
Hoàn Nhan Hoạt Nữ: Con trưởng của Hoàn Nhan Lâu Thất, Vạn hộ nước Kim. Sau trận Nghiêu Sơn dùng hơn hai vạn quân chủ lực chiếm cứ phủ Diên An.
Hoàn Nhan Niêm Hãn: Thủ lĩnh một trong ba phe phái lớn của nước Kim. Bị Hoàn Nhan Ngột Thuật và Tần Cối lập mưu giết chết khi định phế lập quốc chủ.
Hoàn Nhan Ngô Khất Mãi: Em ruột Hoàn Nhan A Cốt Đả, Quốc chủ nước Kim. Bị Hoàn Nhan Niêm Hãn ép lập Thái tử, sau bị trúng phong ba ngày không nói được quá hai câu. Sau khi âm mưu của Niêm Hãn thất bại, nghe lời Ngột Thuật truyền ngôi cho Thái tử, trở thành Thái thượng hoàng về quê dưỡng lão.
Tần Cối: Mưu thần của Hoàn Nhan Ngột Thuật, sau làm Tể chấp nước Kim.
Hồng Nhai: Ban đầu được Triệu Cửu phong làm Huyện lệnh, sau hàng Kim, giữ chức Tể tướng "Ngụy Tề", rồi làm "Tể tướng" nước Kim. Tuy là kẻ ba phải (đầu chuột đuôi hai bên) nhưng thực chất là gián điệp, sau cùng vì mắng chửi nước Kim mà bị tướng Kim phẫn nộ giết chết.
Lưu Dự: Hoàng đế nước "Tề" do Kim sắc phong, chiếm giữ 7 châu ở Kinh Đông (Tế Nam, Thanh Châu, v.v.). Sau đó nước Kim vì muốn nghị hòa với Tống đã chủ động xuất binh bắt giữ Lưu Dự cùng đại bộ phận quan lại, tàn quân bị Nhạc Phi tiêu diệt.
Gia Luật Đại Thạch: Nguyên là Tiến sĩ nước Liêu, sau khi Liêu diệt vong đã chạy sang Tây Vực. Triệu Cửu cử sứ giả liên minh với Gia Luật Đại Thạch để diệt Tây Hạ, sau được Triệu Cửu lấy thân phận thiên tử Tống quốc phong làm Hoàng đế Tây Liêu.
Tiêu Oát Lý Lạt: Đại vương Lục Viện Ty Tây Liêu, Binh mã Đô nguyên soái.
Lý Càn Thuận: Quốc chủ Tây Hạ, tại vị 50 năm, sau khi Tây Hạ diệt vong thì tự sát tại đất tổ.
Uy Danh Sát Ca: Tấn Vương Tây Hạ, em trai Lý Càn Thuận. Chủ soái trong cuộc chiến với Đại Tống, tử trận.
Cao Thủ Nghĩa: Danh môn trong số các nho thần Tây Hạ, phái chủ hòa. Sau trận Nghiêu Sơn làm sứ giả sang Tống thảo luận việc hòa bình.
Nhân Bảo Trung: Tên gốc là Nhân Đa Bảo Trung, sau khi hàng Tống đổi tên thành Nhân Bảo Trung. Giữ chức Kinh lược sứ Lộ Đại Đồng.
Nguyên học là phương châm tư tưởng và chính sách cải cách mới do Triệu Cửu tung ra bằng cách "khâu vá" các môn học từ cổ chí kim, từ trong ra ngoài nước, đồng thời đẩy Lữ tướng công lên vị trí Thánh nhân.
Triệu Cửu định nghĩa: Cái gọi là Thiên lý (Đạo trời), một là Lý của trời (quy luật vận hành cơ bản của vũ trụ), hai là Nguyên của trời (vật chất cấu thành vũ trụ, có thể là nguyên tử).
Đồ vật (vật chất) và Đạo lý không phải là một, cần bóc tách vật chất ra khỏi khái niệm Thiên lý trước.
Lý của trời tồn tại trước (quy luật vũ trụ có trước), hội tụ thành Thái cực (điểm khởi đầu của vũ trụ).
Thái cực đột nhiên sinh ra Âm Dương (Vụ nổ lớn - Big Bang), trong Âm Dương sinh ra Nguyên của trời (nguyên tử dần hình thành sau vụ nổ).
Nguyên của trời xuất hiện, tuân theo Lý của trời, từ đó sinh ra vạn vật.
Nguyên của trời sinh vạn vật, trong vạn vật có thứ cực Dương thì đẩy Dương thu Âm, hình cầu, chính là Mặt trời; có thứ cực Âm, cũng hình cầu, là Trái đất... Trái đất tự quay, lại bị Mặt trời thu hút mà quay quanh Mặt trời, sinh ra sáng tối.
Thân người vốn là vật, vật mang theo Thiên lý. Vạn vật đều mang Thiên lý, nên phải "Cách vật trí tri" (nghiên cứu sự vật để thấu hiểu kiến thức), nghiên cứu vạn vật để thấy được Thiên lý!
Lữ tướng công hỏi: Con người cũng là vật, cũng mang Thiên lý, vậy đạo đức của con người là thế nào? Tại sao có người không tuân theo đạo đức?
Triệu Cửu giải thích: Đạo đức đại khái là vì con người sinh ra có ham muốn (dục vọng), ham muốn tự nhiên cũng tuân theo Thiên lý, nhưng con người là linh hồn của vạn vật, được hình thành một cách nghịch thiên nên không ổn định. Đôi khi ham muốn quá độ hoặc quá thấp, dẫn đến trái với Thiên lý. Lúc này cần "Cách vật trí tri", hiểu rõ gốc rễ Thiên lý để dẫn dắt ham muốn. Đó là "Vì thánh kế tuyệt học" (kế thừa học vấn đã mất của thánh nhân), nên phải "Thuận nhân dục mà biện Thiên lý" (nương theo ham muốn con người mà phân biệt đạo trời).
Dựa trên gợi ý của Triệu Cửu, Lữ tướng công đưa ra "Nguyên lý tân học" hay "Nguyên lý học khái luận", gọi tắt là "Nguyên học":
"Thiên lý là gốc, ban đầu thành Thái cực, Thái cực đột nhiên sinh Âm Dương, rồi có Nguyên của trời xuất hiện. Nguyên của trời thừa hưởng Lý của trời tạo thành vạn vật. Người là linh của vạn vật, sinh ra không ổn định, nên phải thuận nhân dục mà biện Thiên lý. Muốn biện Thiên lý phải cách vạn vật, muốn cách vạn vật phải học tập và thực hành để thành đạo đức. Đạo đức vẹn toàn, thấu hiểu lẽ đời, ấy là Thánh nhân."
Sau đó, Nguyên học còn đưa ra các khái niệm về nguyên tử, phân tử, sự thực hành (tri hành hợp nhất) và kiểm nghiệm thực tế.
Quan chế nhà Tống rất phức tạp, danh nghĩa và thực chức tách rời, gồm ba loại: Quan, Chức, và Sai khiển. Sau này bị Triệu Cửu dần cải cách để danh thực hợp nhất.
Quan: Để định mức lương và địa vị (hàm). Ban đầu là chức vụ thực tế (như Thượng thư, Thị lang) nhưng về sau chỉ là hư hàm để nhận lương.
Chức: Là danh hiệu vinh dự (như Học sĩ, Đãi chế) để thể hiện địa vị chính trị và trình độ văn học. Thường phải là Tiến sĩ mới được nhận.
Sai khiển: Là chức vụ thực tế được hoàng đế phái đi làm việc (ví dụ: Tri phủ, Tri huyện, Chuyển vận sứ). Đây mới là chức vụ có quyền hành thật sự.
Nhà Tống thực hiện chế độ "Hai phủ Ba ty" để suy yếu quyền lực Tể tướng, tăng cường quyền vua.
Trung thư Môn hạ (Đông phủ): Cơ quan hành chính cao nhất, nơi làm việc của Tể tướng. Trong tiểu thuyết sau này bị sáp nhập.
Đô sảnh: Tên gọi sau khi Triệu Cửu hợp nhất 4 tỉnh (Trung thư, Thượng thư, Môn hạ, Bí thư). Tể tướng Đông phủ tổng quản chính vụ, lãnh đạo 6 bộ, 9 tự, 5 giám, 6 viện.
Khu mật viện (Tây phủ): Cơ quan cao nhất về quân vụ, nắm quân quyền và quân lệnh.
Ba ty (Tam ty): Gồm Muối sắt, Độ chi, Hộ bộ; quản lý tài chính.
Ngự sử đài: Cơ quan giám sát, có quyền đàn hạch từ Tể tướng đến quan nhỏ.
Ngự doanh: Trước thuộc Tây phủ, có quyền điều binh nhưng không có thực lực dụng binh. Sau khi Triệu Cửu cải cách, Ngự doanh nắm cả quyền điều động và thực lực chiến đấu.
Hàn lâm Học sĩ viện: Thư ký của hoàng đế, soạn thảo các chiếu chỉ, văn bản quan trọng.
Nội thị sảnh: Cơ quan quản lý thái giám.
Ngự tiền Ban trị: Quân cấm vệ trực thuộc hoàng đế.
Hồng lô tự: Quản lý ngoại giao và nghi lễ. Sau được giao thêm việc phát hành Đê báo (báo triều đình).
Đê báo viện: Bộ phận mới tách ra để chuyên trách báo chí, do Hồ Thuyên làm biên tu.
Hoàng Thành Tư: Cơ quan tình báo đặc vụ, do Dương Di Trung đứng đầu.
Bí các: Vốn là nơi lưu trữ sách quý, nhưng sau khi bị quân Kim vơ vét sạch sẽ, nó trở thành nơi họp hội nghị hàng ngày của các Tể chấp.
Công các: Một tổ chức danh dự dành cho những người cần được khen thưởng nhưng không được giao thực quyền. Họ họp 20 ngày một lần và có quyền dâng sớ lên hoàng đế.
Nguồn: TIÊN HIỀN THƯ VIỆN
Thư hữu cần đăng nhập để bình luận!
Bằng hữu tới nói 2 câu đi...
8 quyển truyện lượt truy cập vượt qua 100 triệu gồm những bộ nào?
Đại Phụng Đả Canh Nhân: Ngụy Uyên, một cái phàm nhân!
Những tình tiết bất hợp lý thường xuất hiện trong truyện tiên hiệp!
Emlyn White (nhân vật nam phụ trong Quỷ Bí Chi Chủ)
Chút cảm nghĩ về kết cục của 《 Nguyên Tôn 》.
Đại cương cho tiểu thuyết hệ thống lưu 《 Đại Phú Ông Hệ Thống 》 cho người mới tham khảo
Review một chút Đại Phụng Đả Canh Nhân, tiên hiệp kết hợp phá án
Lục Địa Kiện Tiên: Mạn đàm chương 749, tra án Thái Tử Phi
Đấu La Đại Lục: Hủy Diệt Chi Thần
Tu Chân Liêu Thiên Quần: Tổng hợp 5 cái trích đoạn khiến ngươi nửa đêm cười lăn lộn trên giường!
Tiên hiền thư viện tổng hợp review truyện, sưu tầm kinh điển trích lời, viết xuống tiêu điểm nhân vật, cầm tay chỉ đạo sáng tác, tóm tắt truyện chữ, đóng góp truyện ngôn tình, review truyện ngôn tình.